Tại Hội nghị Tương lai châu Á lần thứ 23 ở Nhật Bản, trong diễn văn của mình, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhắc đến học thuyết của Adam Smith về nguồn gốc thịnh vượng của các quốc gia. Điều đó về bản chất không có gì khác hơn là tự do kinh tế. Thế nhưng, chỉ số về Tự do kinh tế toàn cầu (Economic Freedom Index) do Viện Heritage thiết lập đã cho thấy trong bốn năm trở lại đây xếp hạng của Việt Nam vẫn quanh quẩn ở vị trí 147 và 148, thuộc hạng thấp nhất khu vực, thấp hơn khá nhiều so với Lào và Campuchia. Câu hỏi vẫn là tại sao và tại sao?


Bảng chỉ số trên lấy bốn tiêu chí cơ bản để đánh giá bao gồm: pháp quyền, chính phủ, hiệu quả của thể chế và độ mở của thị trường. Đành rằng để nâng cấp và hoàn thiện cả bốn tiêu chí này đòi hỏi một quá trình phấn đấu dài với nỗ lực của toàn xã hội, nhưng xét cho cùng và như một tất yếu, ai và ở đâu đó phải có sự khởi đầu và đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt. Phải chăng sự khởi đầu ấy đã được nhận diện bằng tuyên ngôn về một “chính phủ kiến tạo, phục vụ và liêm chính” của người đứng đầu Chính phủ?


Tại sao Chính phủ khó đóng vai “kiến tạo, phục vụ”?


Tại các diễn đàn giữa Thủ tướng và doanh nghiệp, luôn nổi lên những bức xúc đến từ các trăn trở và nỗi ám ảnh lớn của cả hai bên về hàng rào các “giấy phép con”. Từ sau Hiến pháp năm 1992 với việc khẳng định “Công dân có quyền tự do kinh doanh” thì “giấy phép lớn” đã bị xóa bỏ, nhưng đổi lại là hàng loạt “giấy phép con” ra đời và được khoác chiếc áo của điều kiện kinh doanh, bao gồm các thủ tục từ đăng ký đến thông báo, xin ý kiến cơ quan chính quyền khi khởi sự doanh nghiệp. Ở thời điểm năm 2014, với 400 ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì có tới gần 7.000 “giấy phép con” các loại(1). Còn hiện nay, mặc dù số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện được giảm xuống còn 243, nhưng theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các “giấy phép con” vẫn không thể đếm hết và trong một số lĩnh vực, số lượng các giấy phép lại tiếp tục tăng lên.


Có thể nói rằng để có tự do kinh tế thì cần phải xử lý nhiều yếu tố mang tính cản trở. Vấn đề là ở nước ta sau bao năm vẫn dừng chân ở hàng rào đầu tiên không vượt qua được, đó là các “giấy phép con”. Có nghĩa rằng nhìn một cách tổng quát, mặc dù đã chuyển sang kinh tế thị trường nhưng câu chuyện về tự do kinh tế vẫn chỉ xoay quanh đề tài Nhà nước và Chính phủ. Hơn thế, dù cho đã có khá nhiều nghiên cứu, đề xuất và kiến nghị có liên quan và cả các biện pháp quyết liệt được thực hiện mà tình hình vẫn không chuyển biến khả quan. Cho nên, rất có thể đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn nhận sự việc một cách khác đi.


Một mặt, chuyển các điều kiện kinh doanh thành tiêu chuẩn kinh doanh và mặt khác, giảm thiểu sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào đời sống kinh tế thông qua phương thức được gọi là “xã hội hóa quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp”.


Người ta thường nói đến sự cần thiết của việc tạo ra một cỗ máy tốt để ai ngồi trên đó vận hành cũng được. Nhưng đó là đòi hỏi lý tưởng trong bối cảnh chúng ta chưa thể thay thế cỗ máy hiện hành với nhiều khiếm khuyết. Vậy thì không có cách nào khác là trông cậy vào người vận hành. Tuy nhiên, người vận hành cỗ máy rất tiếc lại không phải chỉ là người đứng đầu mà bao gồm hàng vạn, hàng triệu người khác. Một số đông con người như vậy thì không thể được lãnh đạo và điều khiển bằng các tuyên ngôn và kêu gọi, hay các biện pháp tuyên truyền và thuyết phục. Đơn giản họ, mỗi cá nhân, luôn luôn bị chi phối bởi cả tâm lý lẫn lợi ích, là các đại lượng khả biến theo cả thời gian và hoàn cảnh; ví dụ như ai không thích quyền lực, dù to hay nhỏ, và ai không muốn có lợi ích từ đó. Trong khi đó, khái niệm quyền lực từ góc độ cá nhân và trong đời sống hàng ngày lại đơn giản là khả năng gây khó đối với người khác, và nói trong ngữ cảnh cụ thể này thì đó chính là khả năng tạo ra các “giấy phép con”.


Ngoài ra, động cơ hành động của một con người thường đến từ hai yếu tố, đó là cảm hứng (để dẫn đi) và nỗi sợ (để thúc đẩy). Tạo cảm hứng cho một đám đông có thể mang lại hiệu quả nhưng nhất thời. Sự chắc chắn và ổn định của động cơ cho hành động và thay đổi phải là nỗi sợ, mà hạt nhân của nó, nói theo ngôn ngữ pháp luật chính là chế độ chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, cái chế độ chịu trách nhiệm đó phải do “cỗ máy”, vốn được thiết kế bài bản, tạo ra. Đó lại là điều chúng ta chưa có.


Vậy thì giải pháp để giải bài toán các “giấy phép con” ở thời điểm này phải chăng là sự lựa chọn: kiên nhẫn và chờ đợi cho đến khi nào cả bộ máy và con người đều cùng tốt lên và vấn nạn giấy phép kia sẽ tự nhiên biến đi, hay là sự dũng cảm để tư duy và tạo ra hành động đột phá?


Có thể giảm thiểu gánh nặng và sự yếu kém của quản lý nhà nước bằng phương thức “xã hội hóa”?


Ai cũng biết từ “giấy phép” đến “điều kiện kinh doanh” đã là một bước tiến lớn để đến với tự do kinh tế. Tuy nhiên, các “điều kiện kinh doanh” đang hiện hữu và được áp đặt lại dường như quá phức tạp và trở thành rào cản đối với những ai muốn khởi nghiệp và gia nhập thị trường. Hơn nữa, một số điều kiện nào đó có thể là hợp lý vào lúc ban hành, nhưng khi áp dụng thì trở thành thách thức đối với người tuân thủ, một khi nó được coi là cơ hội và phương tiện gây khó của người có quyền lực.


Từ phương diện lý thuyết, cần khẳng định rằng đời sống kinh tế nói chung và thực tiễn kinh doanh nói riêng luôn luôn là một phần không tách rời của đời sống con người. Một con người cần được ra đời trước, rồi mới lớn lên và hoàn thiện. Tương tự với một doanh nghiệp, nó cần được dễ dàng khởi sự và gia nhập thị trường, trước khi phát triển và tiến tới chuyên nghiệp. Đó là chưa nói đến thực trạng của các nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi, nơi mà các doanh nghiệp với sự đa dạng về loại hình và cấp độ tổ chức, quản trị luôn song song tồn tại; chẳng khác nào xe đạp, xe máy song hành với ô tô, hay quầy hàng rong vỉa hè bên cạnh các siêu thị lớn.


Bởi vậy, hãy thử tiếp cận vấn đề thực tế hơn bằng một ý tưởng mới về nguyên lý. Đó là một mặt, chuyển các điều kiện kinh doanh thành tiêu chuẩn kinh doanh và mặt khác, giảm thiểu sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào đời sống kinh tế thông qua phương thức được gọi là “xã hội hóa quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp”. Theo định hướng này, tác giả xin đề xuất ba giải pháp chính như sau:


Giải pháp thứ nhất: Ngoại trừ các lĩnh vực nhà nước cần duy trì việc cấp phép, chuyển các lĩnh vực còn lại, bao gồm cả lĩnh vực tự do kinh doanh (không kèm điều kiện như hiện nay) sang quản lý bằng hệ thống các tiêu chuẩn, thay vì các điều kiện kinh doanh. Hệ thống các tiêu chuẩn kinh doanh cho từng lĩnh vực và ngành nghề sẽ bao gồm nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào sự đòi hỏi ở tính chuyên nghiệp của lĩnh vực và ngành nghề đó; đồng thời được phân loại thành tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng theo quy định của pháp luật và tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng theo cam kết của doanh nghiệp. Khác với các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành, hệ thống tiêu chuẩn này được thiết lập chỉ nhằm khuyến khích các quan hệ thương mại lành mạnh và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Mục tiêu hướng tới là tạo điều kiện dễ dàng và thông thoáng nhất cho sự khởi nghiệp và gia nhập thị trường của tất cả mọi người, trên cơ sở đó các doanh nghiệp sẽ tự phấn đấu để đạt các chuẩn bắt buộc và mong muốn trong quá trình kinh doanh.


Giải pháp thứ hai: Để tránh mọi sự áp đặt chủ quan, duy ý chí và phi thực tế của các cơ quan nhà nước khi thiết lập các tiêu chuẩn kinh doanh, hãy để các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp tự xây dựng các tiêu chuẩn kinh doanh theo khuyến nghị hoặc sự phê chuẩn sau đó của các cơ quan nhà nước. Giải pháp này đã và đang là thực tiễn ở nhiều nước. Trong điều kiện của nước ta, để áp dụng nó thì cần khẩn trương ban hành Luật về Hội để tạo điều kiện cho các hiệp hội về doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo hướng chuyên nghiệp.


Giải pháp thứ ba: Thông qua chính sách và quy định pháp luật, khuyến khích và tăng cường tối đa sự tự giám sát của xã hội và thị trường đối với việc tuân thủ các tiêu chuẩn kinh doanh của các doanh nghiệp, giảm thiểu sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước xuống mức tối thiểu cần thiết, song song với việc hoàn thiện và bảo đảm có hiệu lực của hệ thống tư pháp. Các thiết chế giám sát phi nhà nước sẽ bao gồm sự tham gia của các chủ thể như hiệp hội doanh nghiệp, hội bảo vệ người tiêu dùng, ngân hàng và các chế định tài chính, công ty bảo hiểm, công đoàn và nghiệp đoàn cũng như chính các đối tác và khách hàng của doanh nghiệp.


Các đề xuất nói trên đương nhiên cần được nghiên cứu tiếp và bài bản để có thể triển khai, áp dụng. Tuy nhiên, tác giả hy vọng rằng đó có thể là một bước đột phá giúp Việt Nam đến nhanh hơn với tự do kinh tế theo tiêu chuẩn toàn cầu.

 

Theo thesaigontimes.vn

 

28/06/2017
 

 

 
 
 
HỘI VIÊN MỚI
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lượt truy cập
Số người đang online: 207
Lượt truy cập: 738988
 
 
 
 

 

CHI NHÁNH PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: 26 Hồ Nguyên Trừng, phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng - Điện thoại: 0236-3821719 - 3825814 - Fax: 0236-3822930
 

 

dau lung ben trai dau xuong khop dung thuoc gi trieu chung thoai hoa khop goi trieu chung thoat vi dia dem nấm lim xanh sâm ngọc linh quần jean nam áo sơ mi nam áo thun nam pa lăng xích pa lăng xích lắc tay pa lăng cáp điện máy nén khí máy nén khi puma vinhomes harbour city